Khởi hạn - Đoán vận hạn tốt xấu của một người - Tử vi ứng dụng

Khởi hạn – Đoán vận hạn tốt xấu của một người

Tử vi đẩu số tân biên là hình thức dự trắc vận mệnh con người. Được dựng lên trên cơ sở triết lý chu dịch. Với các thuyết âm dương, ngũ hành, can, chi. Bằng cách lập lá số tử vi cùng Thiên bàn, Địa Bàn, các cung sao, căn cứ ngày giờ sinh, giới tính,…nhằm lý giải các sự kiện diễn ra của một đời người. Việc đoán hạn tốt – xấu là phần hấp dẫn nhất nhưng cũng khó. Cùng xem cách khởi hạn bên dưới.

=> Xem thêm: Đá quý phong thủy.

Khởi hạn
Khởi hạn

Đại hạn (10 năm)

– Bắt đầu ghi số Cục ở cung an Mệnh, đoạn dương nam, âm nữ theo chiều thuận, âm nam, dương nữ. Theo chiều nghịch, lần lượt ghi số tiếp theo, từ cung này chuyển sang cung khác phải cộng thêm mười.

Ví dụ: Dương nam, Hỏa lục cục, bắt đầu ghi số 6 ở cung Mệnh, rồi ghi số 16 ở cung Phụ Mẫu, 26 ở cung Phúc Đức…

– Không ghi số Cục ở cung an Mệnh, dương nam, âm nữ theo chiều thuận, ghi liên tiếp, từ cung này chuyển sang cung khách phải cộng theo mười, âm nam, dương nữ theo chiều nghịch, ghi số Cục ở cung Huynh Đệ, đoạn ghi liên tiếp, từ cung này chuyển sang cung khác phải cộng thêm mười.

Ví dụ: Âm nam, Thổ ngũ cục, bắt đầu ghi số 5 ở cung Huynh đệ, rồi ghi số 15 ở cung Thiên Thiếp, 25 ở cung Tử Tức…

Đây là hai cách khởi đại hạn. Nhưng thường người ta hay dùng cách thứ nhất vì nó chính xác hơn. Một cung đã được ghi đại hạn, tức là vận hạn trong mười năm phải được xem trong cung đó.

Ví dụ: Hỏa lục cục, bắt đầu ghi số 6 ở cung Mệnh. Như vậy trong khoảng 6-15 tuổi phải xem vận hạn ở cung Mệnh. Đến năm 16 tuổi, đại hạn mới chuyển sang cung bên cạnh.

=>Xem thêm: Kim cương nhân tạo.

Lưu đại hạn

Cung đã ghi đại hạn là cung gốc của đại hạn (10 năm). Muốn xem vận hạn rõ ràng hơn, phải lưu đại hạn hàng năm. Muốn lưu đại hạn, phải xem số ghi cung gốc, rồi chuyển số ghi liên tiếp sang cung xung chiếu, đoạn:

– Dương nam, âm nữ, lùi lại một cung, rồi trở lại cung xung chiếu, tiến lên theo chiều thuận, mỗi cung một năm.

– Âm nam, dương nữ, tiến lên một cung, rồi trở lại cung xung chiếu, lùi xuống chiều nghịch, mỗi cung là một năm.

Ví dụ: Dương nam, Mộc tam cục, muốn xem Lưu đại hạn năm 27 tuổi, phải tính cẩn thận trên bản đồ 12 cung như dưới đây. Bắt đầu từ cung gốc của đại hạn 23-32 tuổi, chuyển sang cung xung chiếu 24, lùi lại một cung là 25, trở lại cung xung chiếu là 26, tiến lên một cung theo chiều thuận là 26. Vậy lưu đại hạn năm 27 tuổi ở cung Hợi.

Khởi hạn
Khởi hạn

Ví dụ: Âm nam, Kim tứ cục, muốn xem lưu đại hạn năm 38 tuổi, phải tính cẩn thận trên bản đồ 12 cung như dưới đây. Bắt đầu từ cung gốc của đại hạn từ 34-43 tuổi, chuyển sang cung xung chiếu là 35, tiến lên một cung là 36, trở lại cung xung chiếu là 35, tiến lên một cung là 36, trở lại cung xung chiếu là 37, lùi xuống một cung theo chiều nghịch là 38. Vậy lưu đại hạn năm 38 tuổi ở cung Dần.

=>Xem thêm: Ý nghĩa của ngọc bích.

Lưu niên tiểu hạn

Sau khi khởi đại hạn lưu đại hạn, lại phải tính lưu niên tiểu hạn để xem vận hạn từng năm một. Muốn tính lưu niên tiểu hạn, trước hết phải khởi lưu niên, tùy theo nam nữ và năm sinh.

– Nam khởi lưu theo chiều thuận.

– Nữ khởi lưu theo chiều nghịch.

Năm sinh

Cung khởi lưu niên

Năm sinh

Cung khởi lưu niên

Dân, Ngọ, Tuất

Thìn

Tỵ, Dậu, Sửu

Mùi

Thân, Tý, Thìn

Tuất

Hợi, Mão, Mùi

Sửu

Ví dụ: Con trai sinh năm Tý, phải khởi Tý từ cung Tuất, ghi chữ Tý bên cung Tuất, rồi theo chiều thuận, ghi chữ Sửu bên cung Hợi, chữ Dần bên cung Tý, đoạn lần lượt ghi vào bên những cung liên tiếp thứ tự 12 Chi.

=>Xem thêm: Nhẫn nam kim cương giá rẻ.

Khởi hạn
Khởi hạn

Ví dụ: Con gái, sinh năm Ngọ, vậy phải khởi Ngọ từ năm Thìn, ghi chữ Ngọ bên cung Thìn. Chiều nghịch, ghi chữ Mùi bên cung Mão, chữ Thân bên cung Dần. Đoạn lần lượt giang hồ vào bên những cung liên tiếp thứ tự 12 Chi.

Khởi hạn
Khởi hạn

Lưu nguyệt hạn

Sau khi tính lưu niên tiểu hạn, có thể tính lưu nguyệt hạn (hạn từng tháng một). Muốn tính lưu nguyệt hạn, phải khởi hạn, có 3 cách:

– Bắt đầu từ cung đã ghi được lưu niên tiểu hạn kể là tháng Giêng. Đếm theo chiều nghịch đến tháng sinh, ngừng lại ở cung nào. Kể cung đó là giờ Tý, rồi đếm theo chiều thuận đến giờ sinh, ngừng lại ở cung nào. Kể cung đó là tháng Giêng, đoạn lần lượt lại theo chiều thuận, đếm tháng hai, tháng ba, tháng tư,… mỗi cung là một tháng.

– Bắt đầu từ cung đã ghi lưu niên tiểu hạn kể là tháng Giêng, đếm theo chiều thuận đến tháng sinh, ngừng lại ở cung nào, kể cung đó là giờ Tý, rồi đếm theo chiều thuận đến giờ sinh, ngừng lại ở cung nào, kể cung đó là tháng Giêng, đoạn lần lượt lại như trên, đếm tháng hai, tháng ba, tháng tư,… mỗi cung là một tháng.

– Bắt đầu từ cung đã ghi lưu niên tiểu hạn kể là tháng Giêng, rồi chuyển theo chiều thuận, đếm tháng hai, tháng ba, tháng tư,… mỗi cung là một tháng.

Trên đây là khởi lưu nguyệt hạn. Nhưng thường người ta hay dùng cách thứ nhất. Biên giả mong các vị nghiên cứu Tử Vi đẩu số thử nghiệm cả ba cách để xem cách nào chính xác hơn.

Lưu nhật hạn

Sau khi đã biết lưu nguyệt hạn của tháng định xem ở cung nào. Bắt đầu kể ngay cung đó là mồng một, lần lượt theo chiều thuận, đến mồng hai, mồng ba, mồng bốn,… mỗi cung là một ngày.

Lưu thời hạn

Sau khi đã biết lưu nhật hạn của tháng định xem ở cung nào bắt đầu kể ngay cung đó là giờ Tý, rồi lần lượt theo chiều thuận, đếm Tý, Sửu, Dần, Mão,… mỗi cung là một giờ theo hàng Chi.

Việc xem vận hạn để biết được sự biến đổi trong tương lai là chủ đề mà rất nhiều người quan tâm đến. Xem vận hạn không dễ nhưng cũng không khó. Để có thể đoán chính xác người xem phải biết cách suy luận thật tỉ mỉ. Hy vọng qua bài viết trên mọi người có thể xem đúng vận hạn của mình. 

=>Xem thêm: Nhẫn cưới dưới 5 triệu

Bài liên quan

1 Comment

Phản hồi

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tử vi ứng dụng